Home / Ngữ văn / Văn phân tích / Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh – Bài làm 1

Hồ Chí Minh là một cái tên mà tất cả con dân Việt Nam đều ghi tạc trong tim với một lòng yêu quý, kính trọng vô bờ bến. Trong quá trình tìm lại tự do cho dân tộc, Bác đã phải chịu rất nhiều khổ cực, gian khó, đã rất nhiều lần bị bắt giam, chuyển từ nhà tù này sang nhà tù khác, bị đánh đập, tra tấn dã man. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ở Người vẫn ánh lên một tinh thần lạc quan, một niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Bài thơ “Chiều tối” nằm trong tập thơ “Nhật kí trong tù” đã thể hiện được phần nào tinh thần ấy của Người. Bài thơ chỉ đơn giản là tả lại cảnh nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thế nhưng ẩn chứa trong đó là một ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình.

Bài thơ được sáng tác khi Bác bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bức tranh chiều tối được nhìn qua cặp mắt của người tù tay đeo gông chân vướng xiềng :
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không.”

Dịch thơ:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.”

Buổi chiều thường là lúc đoàn tụ, nhưng cũng là khi con người ta thấy vô cùng cô đơn nếu không có một chốn để  về. Cánh chim mỏi sau một ngày kiếm ăn cũng đã bay về tổ của mình. Trên không trung chỉ còn lững lờ một chòm mây. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chòm mây ấy cũng giống như Bác, đang trong tình cảnh tù tội, vẫn phải cô độc bước đi. Chòm mây cô đơn, lặng lẽ, Bác cũng lặng lẽ, cô đơn. Tuy thế, phải là một người có lòng yêu thiên nhiên, phải có một tâm thái ung dung, bình tĩnh, lạc quan, vượt lên mọi gông cùm về thể xác để ngắm thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên như thế. Thân xác mỏi rã rời vì phải đi cả ngày đường vất vả, nhưng Bác vẫn dõi mắt theo cánh chim về tổ, tầng mây lững lờ trôi lúc chiều về.

Tuy chỉ hai câu thơ bảy chữ, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh quẽ. Đồng thời, cũng nói lên niềm mong ước quay trở về với quê hương, ước mong được tự do như đám mây kia.

Trong khung cảnh thiên nhiên mênh mông, đượm nét buồn lúc chiều muộn nơi rừng núi, bỗng xuất hiện con người:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”

Dịch thơ:

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Giữa cảnh buồn của thiên nhiên như trong thơ cổ, cô sơn nữ hiện lên như  một điểm sáng, làm cho cả bức tranh trở nên sinh động, vui tươi hơn. Đó chính là nét cố điển mà hiện đại trong thơ của Hồ Chí Minh. Bức tranh vừa có người, vừa có hoạt động khỏe khoắn của con người trong đó. Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Cô gái đang miệt mài xay ngô bên lò than rực hồng để chuẩn bị bữa tối. Ở đây, bản dịch thơ không đảm bảo được nghệ thuật của bản chữ Hán. Bác đã lặp lại hai chữ “bao túc” ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư, như những vòng xay nối tiếp nhau của cô gái, như sự tuần hoàn của thời gian, trời đã tối, tối dần. Bức tranh vừa ấm áp bởi cảnh tượng lao động khỏe khoắn của người thôn nữ lao động, vừa bởi cái ánh hồng của bếp lò. Đó chỉ là một thứ hạnh phúc bình dị, vậy mà Bác vẫn gạt bỏ hết những đau đớn, mệt mỏi về thân xác để cảm nhận được.

Xem thêm:  Phân tích bài Thu ẩm của Nguyễn Khuyến

Nhà văn Nam Cao đã viết: “Khi người ta đau chân, người ta không còn tâm trí đâu để nghĩ đến người khác được.”, để nói rằng, con người ta thường có xu hướng lo cho những đau khổ của bản thân. Thế nhưng, ở Bác Hồ – một người lúc nào cũng lo nỗi lo của dân tộc, của đất nước – vậy mà cũng vẫn luôn quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt nhất, bình dị nhất. Đó chính là nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta.

Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ chỉ đơn giản là tả về phong cảnh thiên nhiên và con người nơi xóm núi khi chiều muộn, đồng thời, cũng ẩn chứa trong đó nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của Người. Đồng thời, ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp của tinh thần quên mình, của một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất.

Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh – Bài làm 2

Bài thơ “Mộ” được rút ra trong tập “Ngục trung nhật kí” – tập thơ được chủ tịch Hồ Chí Minh bị bắt và bị giam ở Trung Quốc. Bài thơ ra đời trong thời điểm chiều tối, người thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh sau một ngày dài chuyển lao gian lao vất vả nhưng chưa được nghỉ ngơi, những đọa đầy ban ngày chưa qua thì những đọa đầy ban đêm lại sắp tới nhưng cả bài thơ lại không có bất cứ một từ ngữ, một hình ảnh nào mệt mỏi chỉ có một khung cảnh thiên nhiên thanh bình, êm ả và một hồn thơ ung dung thư thái.

“Quyển điểu phi lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn lộ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”           

Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên chiều tối:

“Quyển điểu phi lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn lộ thiên không”       

Xem thêm:  Phân tích 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu cực hay

Tác giả đã tập trung miêu tả hai hình ảnh quen thuộc với thơ ca truyền thống: cánh chim và chòm mây. Hình ảnh cánh chim bay về rừng là một bức tranh quen thuộc trong thơ truyền thống và cả thơ ca dân gian. Điều này ta có thể thấy qua các câu ca dao: “Chim hôm về núi tối rồi” hay trong “truyện Kiều”: “Chim hôm thoi thóp về rừng”. nếu như trong ca dao hình ảnh cánh chim chỉ đơn thuần là được miêu tả trong tư thế động “về núi”, trong câu thơ của Nguyễn Du cánh chim đã mang theo tâm trạng của con người với bao phấp phỏng, lo âu trông chờ vào sự may rủi “thoi thóp” thì  ở câu thơ của Hồ Chí Minh, “chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ” hình ảnh cánh chim không đơn thuần là sự vận động bên ngoài cũng không chỉ mang tâm trạng buồn đau của nhân vật trữ tình mà là một sự cảm nhận rất sâu bên trong của sự vật. Nó cho ta thấy cả hành trình một ngày dài bay đi kiếm mồi, lúc này chim đã có một sự mệt mỏi, đó là một trạng thái bình thường của cơ thể sau khi vận động. Nhìn sâu vào hình ảnh cánh chim ta nhận ra sự tương đồng giữa sự vật và con người: cánh chim mỏi sau một ngày bay đi kiếm mồi còn con người mệt mỏi sau một ngày lê bước trên đường chuyển lao.trong ý thơ đã bộc lộ sự hòa hợp cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên mà cội nguồn của sự cảm thông ấy là tình yêu mênh mông, sự nhạy cảm tinh tế của Bác dành cho mọi sự sống trên đời. Bên cạnh hình ảnh cánh chim, hình ảnh chòm mây cũng là hình ảnh rất ấn tượng. đó là hình ảnh một chòm mây cô lẻ “cô vân” đang trôi lững lờ “mạn mạn” giữa tầng không. Câu thơ này ở phần dịch thơ, người dịch chưa bộc lộ hết ý nghĩa của phần phiên âm: chữ “cô” chưa được diễn tả và hai chữ “mạn mạn” lại  được dịch thành trôi nhẹ, ít nhiều đã làm giảm đi sắc thái biểu cảm của hình ảnh. Hình ảnh chòm mây gợi cho ta nhớ đến thơ Thôi Hiệu: “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bây” (Hoàng Hạc Lâu) và thơ Nguyễn Khuyến “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”. Trong thơ Thôi Hiệu, hình ảnh chòm mây gợi quá khứ và sự vĩnh hằng còn thơ Nguyễn Khuyến lại gợi lên sự tĩnh lặng, ngưng đọng, thanh khiết. Nhưng đến thơ của Hồ Chí Minh, hình ảnh chòm mây lại là hình ảnh quen thuộc, đời thường, gợi lên sự cao rộng,êm ả, trong trẻo của buổi chiều thu. Qua đó ta thấy được một tâm hồn ung dung, thư tái cảm nhận được tầng mây cũng mang tâm trạng con người cô đơn, lẻ loi nhưng thanh thản, tự tại. Chòm mây ấy đang lững lờ, chầm chậm trôi như mang theo lỗi buồn lặng lẽ trong cảnh chia lìa vì cánh chim đang bay về rừng để lại chòm mây một mình bay lưng trời.

Nếu như hai câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên thì hai câu thơ sau là một bức tranh quen thuộc, hết sức bình dị về cuộc sống, sinh hoạt của người dân địa phương ven núi mà trung tâm của bức tranh ấy là người con gái trong lao động (xay ngô) và lò than rực hồng. Ngòi bút miêu tả của thi nhân đã chuyển từ quan sát cảnh ( cao, xa) đến cận cảnh (thấp, gần) và gắn với hình ảnh cuộc sống con người lao động nghèo. Hình ảnh cô gái xay ngô vừa gợi lên nét đẹp tươi trẻ, khỏe mạnh, vừa gợi lên nét đẹp dung dị của cuộc sống đời thường. Hình ảnh cô gái trong bài thơ khác với hình ảnh con người trong thơ cổ điển ( ngư tiều canh mục). Trong thơ cổ, hình ảnh con người chỉ làm tăng thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của thiên nhiên mà thôi. Còn hình ảnh con nguồi trong thơ của Bác lại toát lên vẻ trẻ trung, sống động giữa cảnh núi rừng chiều tối âm u, heo hút. Chính vì thế, hình ảnh cô gái lao động đã mang lại hơi ấm, sự sống và niềm vui. ở câu thơ thứ ba có một điều cần lưu ý đó là trong bản dịch thơ, người dịch đã dịch thừa một chữ “tối”. Điều này đã làm mất đi tính hàm xúc, cô đọng trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh bởi vì Bác không cần dùng chứ tối nhưng cũng vẫn gợi được hình ảnh bóng tối đã bao trùm lên không gian, cảnh vật qua hình ảnh lò than đã rực hồng. tác giả đã dùng biện pháp đối lập, lấy ánh sáng để miêu tả bóng tối tạo nên sự vận động của hình tượng nghệ thuật, chứng minh rằng trong thơ của Bác luôn huống tới sự sống và ánh sáng.

Xem thêm:  Giải Sinh lớp 8 Bài 22: Vệ sinh hô hấp

Hình ảnh xay ngô được tác giả nhắc đến ở cuối câu thơ thứ ba và lặp lại ở đầu câu thơ thứ tư đã gợi lên vòng xoay liên hoàn của chiếc cối xay, đồng thời cũng gợi lên sự vận động trôi chảy của thời gian: từ lúc chiều tối đến khi tối hẳn. Có người cho rằng hình ảnh lò than rực hồng chính là nhãn tự của bài thơ. Điều đó cũng thật có lý vì hình ảnh này gợi lên sự ấm áp, rực sáng giữa không gian lạnh lẽo, vắng lặng  của một chiều thu nơi núi rừng. hơn nữa, hình ảnh lò than gắn với hình ảnh sinh hoạt của con nguồi , vì thế cùng với hình ảnh cô gái, hình ảnh lò than đã trở thành trung tâm của bức tranh, tạo nên nét mới, nét hiện đại trong bức tranh giàu yếu tố cổ điển của Hồ Chí Minh.

“Mộ” – một bài thơ mang màu sắc cổ điển hàm súc kết hợp với tính chất trẻ trung, hiện đại, bình dị. Tứ thơ vận động từ cảnh đến tình, từ trong bóng  tối đến sự sống, đến ánh sáng và tương lai. Nét vẽ linh tế, thể hiện một hồn thơ "bát ngát tình”. Bài thơ thấm đượm một tình yêu mênh mông đối với tạo vật và con người. Trong đọa đầy gian khổ, tâm hồn Bác vẫn dào dạt sự sống.

Check Also

Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của nhà thơ Phan Bội Châu cực hay

Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của nhà thơ Phan Bội Châu cực hay

Đề bài: Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của nhà thơ Phan …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *