Home / Ngữ văn / Văn phân tích / Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Cruyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Cruyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Truyện người con gái Nam Xương – Bài làm 1

Có nguồn gốc từ câu chuyện cổ dân gian “ Vợ chàng Trương”- “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là một trong những truyện hay nhất trong tác phẩm “ Truyền kì mạn lục”- Tập truyện đầu tiên của nền văn học dân tộc, được đương đương thời coi là “Thiên cổ kì bút” (bút lạ từ ngàn xưa).

Chuyện người con gái Nam Xương xoay quanh cuộc đời và số phận của nhân vật Vũ Nương.

Vũ Nương, tên thật là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương. Trước hết,Vũ Nương là người phụ nữ có vẻ đẹp toàn diện. Tuy được Nguyễn Dữ đánh giá khá khái quát qua một câu “ tư dung tốt đẹp”, nhưng cách diễn đạt ấy hàm súc đủ gợi ở người đọc những hình dung về nhan sắc mặn mà, đằm thắm của nàng.

 Không chỉ có vẻ đẹp nhan sắc,Vũ Nương còn đẹp ở nhân cách,phẩm giá. Trong gia đình,Vũ Nương là người con hiếu thảo. Khi chồng chinh chiến xa nhà,Vũ Nương còn rất trẻ. Quan hệ mẹ chồng nàng dâu vốn phức tạp, lại khó dung hòa trong xã hội phong kiến nặng lề thói.Vậy mà Vũ Nương yêu thương, chăm sóc cho mẹ chồng không khác gì mẹ đẻ.

Mẹ Trương Sinh vì nhớ con mà phiền muộn,đau ốm. Vũ Nương lo cho mẹ cả về thể chất lẫn tinh thần. Nàng “hết sức thuốc thang”, “lễ bái thần phật”, “chăm sóc miếng cơm,miếng áo”. Có thể nói nàng đã làm rất tốt bổn phận của một người con hiếu thảo khi chăm lo chu toàn cho người mẹ chồng già yếu.

Khi mẹ mất, việc tang ma cũng được nàng lo chu toàn và hết lời thương xót..Như thế, nàng đối với mẹ chồng đâu chỉ bằng trách nhiệm mà còn bằng cả tình thương sâu sắc. Lời trăng trối của mẹ Trương Sinh trước khi mất “ xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ” đã gián tiếp khẳng định công lao,đức hạnh và phẩm chất hiếu thảo của Vũ Nương đối với mẹ chồng.

Vũ Nương còn là người rất đảm đang,tháo vát. Trương Sinh ra trận, gánh nặng gia đình đổ cả lên vai Vũ Nương. Nàng phải vừa làm vợ, làm mẹ, làm dâu,vừa phải gánh vác giang sơn của nhà chồng, không có chồng ở bên động viên, giúp đỡ cho dẫu chỉ là về mặt tinh thần.

Ba năm đằng đẵng, nàng sinh con, chăm con, nuôi mẹ, lo tang ma khi mẹ nằm xuống…Tất cả những việc lớn bé ấy đều do một tay nàng xoay xỏa, sắp đặt.

Đáng quý và nổi bật hơn tất cả đó là tình yêu dành cho chồng,tấm lòng thủy chung,son sắc và sự nhân hậu, vị tha.

Thương chồng nên về làm dâu, nàng cư xử nhường nhịn,giữ gìn khuôn phép để gia đình trong ấm ngoài êm. Trước lúc Trương Sinh ra trận, nàng không nghĩ đến những năm tháng khó khăn dằng dằng trước mắt, không bận lòng về trách nhiệm nặng nề phải gánh vác trên vai nay mai. Nàng chỉ một lòng lo lắng cho sự an nguy của chồng, nàng mong ước giản dị: “chằng đi chẳng mong đeo ấn phong hầu…chỉ mong ngày về mang theo hai chữ bình yên”. Với nàng, sự bình yên của chồng là quan trọng nhất, vinh hoa bổng lộc cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Thủy chung, tình nghĩa nên cách biệt ba năm nàng vẫn “ giữ gìn một tiết”. “ tô son điểm phấn đã từng nguôi lòng”, “ ngõ liễu tường hoa chưa từng bén gót”. Vũ Nương vẫn một mực trông chờ,ngóng đợi.

Nàng chỉ bóng mình trên tường để nguôi lòng cả nỗi nhớ cha của con, nỗi nhớ chồng của vợ.

Con người vị tha, nhân nghĩa ấy dù không còn trên cõi nhân gian vẫn như “ ngựa Hồ”, “chim Việt”hướng lòng về chồng con, gia đình, quê hương, xứ sở “ tôi tất phải tìm về có ngày”.

Không chỉ tình nghĩa với chồng con,quê hương, gia đình. Vũ Nương còn tình nghĩa với người mang công cứu mạng “ cảm ơn ân đức của Linh Phi đã thề sống chết không bỏ”.

Vị tha,nhân hậu nên với người chồng đa nghĩ, tàn nhẫn, Vũ Nương không một lời hờn trách, oán giận. Trước hành động vũ phu của người chồng, Vũ Nương chỉ khóc lóc, kêu oan. Dưới thủy cung,gặp Phan Lang, mới nghe nhắc đến Trương Sinh, tình cảm sầu thảm, nàng đã “ ứa nước mắt”. Đấy là giọt nước mắt tủi phận xong cũng là giọt nước mắt xót thương.

Khi Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang, nàng hiện về trên kiệu hoa “đa tạ tình chàng”. Sự trở về ấy, dù chỉ giây lát thôi cũng cho ta thấy Vũ Nương có tấm lòng vị tha biết mấy!

Mặt khác, tâm hồn Vũ Nương trong sáng trong danh dự. Nàng bị chồng kết tội hư thân đã hết lời thanh minh,giải thích.

Để chứng minh tấm lòng trong sạch của mình, nàng đã gieo thân xuống dòng Hoàng Giang để tỏ lòng.

Xem thêm:  Văn miêu tả lớp 3: Kể về một buổi biểu diễn nghệ thuật em đuợc xem

Có thể thấy Nguyễn Dữ đặt Vũ Nương vào nhiều hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ phẩm giá, tính cách: khi cuộc sống vợ chồng bình thường, khi chồng đi lính, khi bị chồng nghi oan…Nhưng tính cách Vũ Nương nhất quán, trước sau như một. Con người ấy dù chết,bản chất vẫn tốt đẹp. Với chồng là sự thủy chung, trong trắng; với mẹ chồng là hiếu thảo, tận tụy; với con là tình yêu thương nhất mực. Ở nàng ta thấy được sự kết hợp giữa vẻ đẹp hình tức và vẻ đẹp tâm hồn đúng như Nguyễn Dữ giới thiệu “ tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.

Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Truyện người con gái Nam Xương – Bài làm 2

Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm sống giữa thế kỉ XVI lúc mà chế độ phong kiến nhà Lê đang bắt đầu suy yếu. Nguyễn Dữ chỉ làm quan có một năm rồi về sống ẩn dật viết sách và sáng tác văn học. “ Chuyện người con gái Nam Xương” được rút ra trong tập “ Truyền kì mạn lục” là một câu chuyện được nhà văn sáng tạo trở thành một tác phẩm văn học đích thực. Qua câu chuyện ta thấy nổi lên là nhân vật Vũ Nương với số phận và phẩm chất cao đẹp.

Số phận của Vũ Nương là một tấn bi kịch đầy thương tâm. Vũ Nương được giới thiệu là người phụ nữ phong kiến mang vẻ đẹp truyền thống “ công – dung – ngôn – hạnh”. Bằng sự đồng cảm sâu sắc và tấm lòng trân trọng nâng niu, Nguyễn Dữ đã dành hết tâm huyết của mình để ca ngợi Vũ Nương.

Nhưng thật oái ăm, Vũ Nương được kết tinh bao nhiêu thứ đẹp thì để rồi trở nên trắng tay trong cuộc đời. Trong hoàn cảnh loạn lạc chiến tranh phong kiến, Trương Sinh phải đầu quân đi lính, nàng vất vả một mình nuôi con nhỏ chăm sóc mẹ chồng già yếu ốm đau. Cái bóng trên tường mà nàng vô tình dỗ con chính là nguyên cớ của sự sụp đổ. Ngày sum họp cũng là ngày nàng vĩnh viễn rời xa tổ ấm. Đau đớn hơn nữa kẻ đẩy nàng vào chỗ chết không ai khác chính là chồng và con mình. Chỉ vì lời nói ngây thơ của con trẻ “ Ô hay ! Thế ra ông cũng là cha tôi ư” mà Trương Sinh nghi vợ mình không thủy chồng. Tâm lý ghen tuông khiến Trương Sinh đến mù quáng, sự ích kỷ của kẻ vô học khiến Trương Sinh băm bổ phỉ bám và độc quyền không cho vợ thanh minh. Quả thực sự ghen tuông dẫn tới đa nghi đó của người đàn ông khiến cho người vợ dù có tinh khôn đến mấy thì cũng khó lòng mà lường hết được. Lẽ ra cuộc sống hạnh phúc là tin tưởng là cảm thông nhưng một kẻ tầm thường như Trương Sinh thì chỉ cần một cái cớ rất nhỏ ấy cũng có thể tưởng tượng ra sự việc vô cùng nghiêm trọng. Cứ thế mà dẫn tới tan nát cửa nhà. Tuy nhiên xét về khách quan, trong hoàn cảnh Trương Sinh trở về sau ba năm mẹ đã mất, chỗ dựa tinh thần lớn nhất là vợ và con. Chàng cứ suy diễn để rồi tưởng tượng có người thứ ba xen vào trong gia đình mình. Chàng không còn tỉnh táo để suy xét lời con nói ngay cả sự van xin của vợ cũng chẳng thèm lọt tai. Nàng không tự minh oan cho mình được nữa đành gieo mình xuống sông tự tử.

Nỗi oan của Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi nếu như không có một đêm tình cờ “ Cha Đản lại đến kia kìa” Người cha thứ hai vô tình ấy chính là nguyên nhân sâu xa gây ra cái chết oan uổng của Vũ Nương. Thế là chỉ một trò đùa trong thương nhớ dẫn tới cái chết oan khiên của người vợ dung hạnh. Nàng chết sự lẻ loi cô đơn và nỗi ân hận sẽ là hình phạt dày vò Trương Sinh suốt quãng đời còn lại. Cái chết của Vũ Nương cũng là đại diện cho số phận chung của người phụ nữ phong kiến. Một con người đẹp nết đẹp người, thủy chung son sắt thì bị nghi oan là thất tiết. Một con người hết lòng xây dựng cho hạnh phúc gia đình đến cuối cùng phải bất hạn lìa xa cuộc đời. Tác phẩm tố cáo đanh thép cái xã hội nam quyền độc đoán, cảnh chiến tranh phong kiến dẫn tới sự chia lìa. Người đọc cũng được cảnh tỉnh về sự nhẹ dạ vô ý dẫn tới những hậu quả thương tâm.

Dưới chế độ phong kiến người phụ nữ bị coi rẻ, mất hết quyền tự chủ nhưng bằng tấm lòng nhân đạo cao cả Nguyễn Dữ đã dành những trang viết hết sức xúc động để ca ngợi phẩm chất của Vũ Nương. Mặc dù cuộc hôn nhân với Trương Sinh là hoàn toàn gượng ép nhưng nàng luôn sống yên phận hết lòng, vun đắp cho hạnh phúc nhà chồng. Biết chồng đa nghi và hay ghen lúc nào nàng cũng sống “ khuân phép” để vợ chồng khỏi “ thất hòa”. Nàng thủy chung son sắt đợi chờ chồng trong những năm tháng chồng phải đi trận mạc: “ Mỗi khi bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Khi bị chồng nghi oan nàng cố gắng dãi bày và níu kéo khi hôn nhân có nguy cơ đổ vỡ.

Xem thêm:  Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng

Chuyện mẹ chồng nàng dâu trong xã hội phong kiến thường là chuyện đố kị nhất trong gia đình. Nhưng với Vũ Nương nàng là người con dâu hiếu thảo: “ Chăm sóc mẹ chồng như cha mẹ đẻ mình”, chạy chữa thuốc thang khi mẹ chồng ốm khiến cho mẹ chồng phải nể trọng. Trước khi chết bà cụ còn cầu nguyện “ xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Khi mẹ chồng mất một mình nàng lo ma chay rất chu đáo, được mọi người kính nể. Vũ Nương còn là người mẹ tận tụy đảm đang hết lòng yêu thương con. Một mình một bóng nuôi con Vũ Nương vừa là người mẹ dịu hiền vừa làm thay bổn phận người cha để làm chỗ dựa tinh thần cho con trẻ.

Về với thủy cung, một thế giới lung linh huyền ảo, Vũ Nương được hồi sinh đúng như lời nguyện trước khi chết. Nàng vẫn mong muốn trở về với quê hương gia đình. Nhưng ước mơ vẫn chỉ là ước mơ. Tác giả thêu dệt bức tranh dưới thủy cung nhằm hoàn thiện nhân cách Vũ Nương: con người ấy ngay cả khi chết vẫn muốn được trở về với quê hương.

Bằng tài năng sáng tạo và tấm lòng nhân đạo cao cả. Nguyễn Dữ đã xây dựng thành công nhân vật Vũ Nương điển hình cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ là những con người có phẩm chất truyền thống tốt đẹp nhưng lại gặp nhiều nỗi oan trái cay nghiệt cái xã hội mà ta nói đến là:

“ Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

( Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)

Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Truyện người con gái Nam Xương – Bài làm 3

Sống giữa thế khỉ mười sáu, lúc mà chế độ phong kiến nhà Lê đang bắt đầu suy yếu. Là một người tài giỏi, học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nguyễn Dữ. Không thể chịu đựng cái chiều đình thối nát đó ông làm quan một năm rồi xin về ở ẩn viết văn và đọc sách.  “ Chuyện người con gái Nam Xương” được rút ra trong tập “ Truyền kì mạn lục” là một câu chuyện được nhà văn sáng tạo trở thành một tác phẩm văn học đích thực. Qua câu chuyện ta thấy nổi lên là nhân vật Vũ Nương với số phận và phẩm chất cao đẹp. Truyện Người con gái Nam Xương là câu chuyện về số phận oan nghiệt của một người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh dưới chế độ phong kiến, chỉ vì một lời nói ngây thơ của con trẻ mà bị nghi ngờ, bị xỉ nhục,bị đẩy đến bước đường cùng , phải kết liễu cuộc đời mình để giãi tỏ tấm lòng trong sạch. Đó là số phận, hình ảnh của Vũ Nương một nhân vật chịu nhiều oan nghiệt.

Nguyễn Dữ đã thật tài tình khi xây dựng hình ảnh người phụ nữ mà cụ thể ở đây là Vũ Nương,ông đã đặt nhân vật vào tình huống khác nhau để thể hiện rõ được phẩm chất của người phụ nữ thương chồng, yêu con, hiếu thỏa với cha mẹ chồng đồng thời cũng hết mực thủy chung son sắc.

Theo lời kể của tác giả ngay từ đầu tác phẩm thì Vũ Nương là một người con gái thuỳ mị, nết na lại có tư dung tốt đẹp. Và những phẩm hạnh ấy đã được bộc lộ trong những hoàn cảnh khác nhau.

Trong cuộc sống gia đình, Vũ Nương là người vợ hiền thục. Nàng lấy chồng là Trương Sinh, vốn là một người ít học, lại có tính đa nghi, phòng ngừa quá mức. Vì thế, nàng đã biết lựa tính chồng, giữ cho khả bất lìa, gia đình luôn được trong ấm, ngoài êm. Vũ Nương quả nhiên là một người vợ hiền, có ý thức giữ gìn hạnh phúc gia đình. Thế rồi đất nước xảy ra nạn binh đao, Trương Sinh phải đi lính, thì phẩm chất tốt đẹp của nàng lại càng được hiện lên rõ hơn. Lời nói, lời dặn dò trong cảnh tiễn chồng của nàng đã khiến mọi người cảm động: chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên. Vũ Nương là người không ham danh vọng mà luôn khao khát hạnh phúc gia đình, không những thế, nàng còn hiểu, thông cảm cho nỗi vất vả gian lao của chồng: chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường, giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao… Khi xa chồng, Vũ Nương luôn làm tròn bổn phận của người vợ hiền, dâu thảo. Nàng sinh con, quán xuyến công việc gia đình, chăm sóc mẹ già đau ốm. Đặc biệt khi người mẹ mất, nàng đã lo ma chay chu đáo như với cha mẹ của mình. Qua lời trăng trối của bà mẹ trước lúc lâm nguy tác giả đã gửi gắm tình hình của mình đối với nhân vật Vũ Nương, khẳng định công lao, nhân cách của Vũ Nương đối với gia đình. Ở Vũ Nương là tất cả những phẩm chất cao cả của người con gái Việt. Thế nhưng một cuộc đời hạnh phúc lại không phải là của nàng. Là một người phụ nữ rất mực chung thủy tần tảo,nhưng vì một lời nói ngây thơ của con trẻ mà Vũ Nương đã phải chịu bao oan khuất, tủi nhục.

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về Tình thầy trò

Tưởng rằng khi Trương sinh về thì Vũ nương được sống ngập tràn trong niềm vui và hạnh phúc và nàng cũng chia sẻ bớt gánh nặng cuộc sống cho chồng ai ngờ nàng bị một nỗi oan không tài nào thanh minh nổi, mặc dù nàng đã hết lời phân trần tấm long son sắc thủy chung của mình cho chồng hiểu như: nàng nói đến thân phận mình nghèo được nương nhờ nơi giầu có.. ,tình nghĩa vợ chồng bao năm và khẳng định tấm lòng thủy chung trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Như vậy đã chứng tỏ nàng đã hết sức cưu vãn, mong hàn gắn cái hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ. Những nỗi đau đớn, thất vọng khi bị đối sử bất công, đến cả cái quyền tự bảo vệ mình nàng cũng không có được. Hạnh phúc gia đình niềm khát khao của cả cuộc đời nàng đã tan vỡ như bong bong. Tất cả những nỗi đau khổ chờ chồng trước đây không còn có thể làm lại được nữa.

Nỗi niềm ấy của nàng không được giải tỏa, những oan khuất của cuộc đời, rồi cuộc hôn nhân không thể nào cứu vãn ấy. Nàng đành phải mượn dòng nước quê hương để rửa sạch nỗi oan khuất cho mình. Những lời than trước khi vĩnh viễn cuộc đời đầy đau khổ của mình nhưng cũng đầy luyến tiếc, như một lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và tiết sạch giá trong của nàng. Ở đoạn truyện này, tình tiết được sắp xếp đầy kịch tính, Vũ Nương bị đẩy đến bước đường cùng, nàng đã mất tất cả, đành phải chấp nhận số phận sau mọi cố gắng không thành. Hành động tự trẫm mình của nàng là một hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự, có nỗi tuyệt vọng đắng cay, nhưng cũng có sự chỉ đạo của li trí. Đây không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận. Một người phụ nữ xinh đẹp, nết na thùy mị, hiền thục ,lại đảm đang tháo phát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một lòng một dạ chung thủy với chồng, hết long vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Một con người như thế đáng ra phải được hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết một cách oan uổng, đau đớn. vậy nguyên nhân nào dẫn tới kết quả đáng buồn ấy. Bằng cách xây dựng tình tiết truyện đặc sắc đầy kịch tính, tác giả cho ta thấy những cố gắng hết sức nhưng không thành của một người phụ nữ, để rồi phải chấp nhận số phận và nàng đã phải giải thoát kịch của cuộc đời mình bằng cái chết oan khuất. Sự việc này đã đẩy câu chuyện đến đỉnh điểm của sự việc. Đến khi Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ cũng bằng sự việc hết sức ngẫu nhiên mà hợp lí. Đó là khi bé Đản chỉ Trương Sinh cái bóng trên tường chính là cha của mình. Điều đó có ý nghĩa tố cáo vô cùng mạnh mẽ đối với chế độ phong kiến, chỉ một cái bóng cũng có thể quyết định số phận một con người, đẩy người phụ nữ nết na bất hạnh vào bi kịch không lối thoát.

Trong cái xã hội phong kiến, những người phụ nữ đức hạnh hiền thục đều phải chịu chung một số phận bi đát. Câu chuyện thương tâm về cái chết của Vũ Nương càng làm cho ta thấm thía, cảm thông với nỗi đau của người ohuj nữ ở xã hội cũ. Tác phẩm còn là tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến làm tan vỡ hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình. Ở cái xã hội ấy thì những người con gái có nhan sắc, phẩm hạnh như Vũ Nương không bao giờ được nâng niu. Và sẽ thật đẹp, thật nhiều sự tôn trọng nếu hình ảnh của người phụ nữa ấy còn tồn tại ở thời đại hiện nay. Từ một tác phẩm dân gian, Nguyễn Dữ đã sáng tác nên một tác phẩm đặc sắc, có những yếu tố hoang tưởng đan xem nhưng vẫn để lại những ấn tượng vô cùng đặc biệt trong lòng người đọc.

Check Also

Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của nhà thơ Phan Bội Châu cực hay

Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của nhà thơ Phan Bội Châu cực hay

Đề bài: Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của nhà thơ Phan …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *