Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan
4.9 (97.79%) 517 đánh giá

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan – Bài làm 1

Nói đến  văn học trung đại của Việt Nam chúng ta không thể không nhắc đến tên tuổi của hai nữ thi sĩ tiêu biểu cho giai đoạn văn học này đó chính là Hồ xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Cùng nổi danh trong thời kỳ văn học trung đại nhưng mỗi thi sĩ lại mang một hồn thơ khác nhau. Nói  đến Hồ Xuân Hương chúng ta sẽ nghĩ ngay tới bài thơ “bánh trôi nước” hồn thơ của Hồ Xuân Hương mang đầy vẻ gai góc, sắc bén và có hàm ý vô cùng thâm sâu và mạnh mẽ như chính con người bà vậy. Nhắc tới Bà huyện Thanh Quan thì chắc hẳn người đọc không tể quên được bài thơ “Qua Đèo Ngang” đây là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của bà, bài thơ là nỗi lòng trầm tư sâu sắc và đầy sâu lắng của tác giả.

Loading...

Bài thơ Qua Đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ ra đời trong khi bà vào Phú Xuân và đi qua Đèo Ngang. Trước vẻ đẹp của đất trời, non nước và con người bà đã sáng tác nên bài thơ này.Bài thơ mang ý vị sâu lắng, nỗi buồn , nỗi cô đơn của người thi sĩ dường như đã nhuốm màu lên cảnh vật. Tác giả đã mở đầu bài thơ với hai câu đề:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá, đá chen hoa

Lối mở đầu bài thơ của tác giả hết sức tự nhiên, chỉ với hai câu thơ vô cùng ngắn gọn tác giả đã khái quát được toàn bộ thời gian không gian cảnh vật. Đây là một bức tranh chiều hoàng hôn với hình ảnh “bóng xế tà” hình ảnh ấy gợi lên cho con người ta nỗi buồn mang mang mác vì một ngày sắp khép lại. Trong câu thơ dường như đang ẩn chứa nỗi niềm u buồn, tiếc nuối của nữ thi sĩ. Trước không gian rộng lớn của Đèo ngang và trước thời gian “bóng xế tà” nhen nhóm lên hình ảnh của cỏ cây, hoa lá. Đó là những điều đẹp đẽ, tươi mới của cuộc sống. Trong câu thơ “cỏ cây chen lá, đá chen hoa” tác giả đã dùng biện pháp nhân hóa, cỏ cây hoa lá cũng biết chen chúc nhau, đua nhau trỗi dạy, thể hiện sức sống mãnh liệt của những thứ thật nhỏ bé và đơn giản.

Tác giả đã phóng tầm mắt của mình ra xa hơn, nhìn bao quát cảnh vật, cảnh vật trong quan sát của tác giả được thể hiện trong hai câu đề:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Trong bức tranh đã  xuất hiện hình nhr của con người nhưng nó lại “lác đác”  “tiều vài chú “con người thư thớt làm cho bức tranh cũng chở nên đìu hiu vắng vẻ, càng khiến con người trở nên nhở bé và hiu quạnh trước cảnh tượng hùng vĩ của thiên nhiên. Trong hai câu thơ này tác giả đã triệt để sử dụng biện pháp đảo ngữ nhấn mạnh dáng vẻ “lom khom”của chú tiều, sự “lác đác “của những mái nhà bên sông.  Chính biện pháp đảo ngữ khiến chúng ta thấy được nét quạnh hiu, vắng vẻ của bức tranh chiều tà.
Đến hai câu luận người đọc sẽ hiểu rõ hơn lí do vì sao mà bức tranh thiên nhiên dưới ngòi bút của tác giả lại u buồn đến vậy, câu thơ ẩn chứa nỗi buồn thê lương của người nữ sĩ:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Câu thơ không chỉ đơn thuần là tiếng kêu tha thiết của con cuốc mà còn là chính nỗi lòng của tác giả, đó là nỗi nhớ thương quê nhà. Câu thơ đã sử dụng thành công điển tích xưa nói về thời vua Thục mất nước, ông đã hóa thành con chim cuốc và vì nhớ nước mà luôn kêu “cuốc cuốc”. Tiếng chim cuốc cuốc trong bóng chiều tĩnh lặng càng tô đậm nỗi buồn của tác giả. Tiếng kêu “gia gia” ẩn chứa trong đó là nỗi “thương nhà” . Qua nghệ thuật chơi chữ kết hợp với việc sử dụng sắc sảo thủ thuật nhân hóa người đọc đã hiểu được nỗi lòng sâu thẳm của tác giả, hiểu cảm nhận của bà về thực tại xã hội lúc bấy giờ.

Kết thúc bài thơ là hình ảnh:
Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta

Cảnh Đèo Ngang thật đẹp và hùng vĩ đó là núi non, mây trời. Cảnh đẹp ấy như muốn níu chân người thi sĩ. Cảnh thì đẹp như vậy nhưng lòng người lại chứa đựng nỗi buồn mang mác, chính sự hùng vĩ của núi đồi khiến người thi sĩ nhận ra đó là “Một mảnh tình riêng ta với ta” lòng tác giả có biết bao u buồn sầu lắng nhưng biết chia sẻ cùng ai bây giờ. Kết thúc bài thơ là tiếng thở dài, để lại trong lòng người đọc những day dứt không nguôi.

Bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan đã thể hiện rõ tâm tư của tác đó là nỗi buồn, nỗi nhớ thương và cả lòng yêu nước tha thiết của tác giả. Bài thơ đã khép lại nhưng hồn thơ của bà sẽ còn mãi, nó đã in đậm trong lòng người đọc.

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan – Bài làm 2

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan (Nguyễn Thị Hinh) thuộc vào số các tác giả để lại tác phẩm không nhiều, nhưng gây được mối cảm tình nồng thắm nơi bạn đọc. Những ai đọc thơ bà đều cảm thấy một điệu thơ êm ái, ngọt ngào, một nỗi buồn cô đơn, lặng lẽ ám ảnh trong tâm hồn. Bài Qua Đèo Ngang này cũng vậy.

Về mặt thanh luật, bài thơ làm đúng theo luật thơ Đường thất ngôn bát cú thể trắc. Cả bài chỉ có ba chữ “cỏ”, “chen”, “ta” là không theo sát luật chuẩn, nhưng được luật “nhất tam, ngũ bất luận” cho phép. Điều đáng chú ý là mấy chữ không theo sát đó lại nằm trong dụng ý của tác giả là tăng thêm thanh bằng cho bài thơ được thêm êm ái, và tạo nên sự lặp từ tự nhiên: “chen đá, lá chen hoa” và “ta với ta”.

Xét về mặt tả cảnh, bài thơ cực tả cảnh chiều tà hoang vắng, cô độc để thể hiện một niềm cô trung, nhớ tiếc kín đáo của nhà thơ.

Bài thơ mở đầu bằng cảnh “bóng xế tà” nơi đèo cao heo hút. Bóng xế tà – sự kết hợp vừa Nôm vừa Hán – như kéo dài cái bóng chiều ra cho tình cảm thêm ngao ngán, bâng khuâng. Cảnh chiều tà trong thơ cổ thường gợi nhớ về một triều đại cũ, non nước cũ.

Cảnh “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”, tuy có cỏ cây hoa lá, nhưng hẳn không phải cảnh đẹp bởi vì sự “chen đá”, “chen hoa”, gợi vẻ um tùm, hoang dại, vô trật tự chen lấn, lại không sắc hương, đường nét.

Hình ảnh mấy chú tiều phu “lom khom” mải mốt hái củi dưới núi, như chẳng quan tâm gì đến thế sự, còn “lác đác” mấy túp lều chợ (có sách chép là rợ – đồng bào thiểu số; có lẽ đây là mấy túp lều tạm che mưa, nắng của kẻ tiều phu, không phải lều chợ), gây nên cảm giác vừa hoang vắng, vừa xa lạ. Đây đúng là nơi sơn cùng thuỷ tận của xứ Đàng Ngoài thời vua Lê, chúa Trịnh. Từ đây trở vào đã là xứ khác.

Chính lúc ấy vẳng lên tiếng con chim cuốc kêu buồn nghe như vua Thục Đế xưa khóc nước cũ:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng , cái gia gia

Ở đây đúng ra phải viết là “con cuốc cuốc”, con chim cuốc kêu “cuốc cuốc” Nhưng người nghe lại nghe là “quốc quốc” nên chép là “quốc”, như đang khóc nước, một trường hợp “tá âm” – mượn âm trong văn chương khá phổ biến. Trần Danh Án, một di thần nhà Lê có câu: “Gia cô kêu gia gia – Đỗ quyên kêu quốc quốc” (lời dịch).

Chim đa đa (gia cô) được đọc chệch thành “gia gia” cho đối với “quốc quốc” và hợp cảnh nhớ nhà; và tiếng kêu “mỏi miệng” mà vô ích mới đáng thương làm sao. Đây là tiếng chim kêu khi chiều xuống hay tiếng lòng thương nhớ réo gào trong tâm hồn Bà Huyện? Thật khó mà phân biệt, khi con người đang đứng trên đường phân chia xưa kia của hai xứ.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước 

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Một phút dừng chân lại nhìn trời, nhìn non, nhìn nước, như một động tác chào từ biệt, một cử chỉ phơi trải tấm lòng. Còn bảy chữ trong câu kết là một lời cảm thán, chữ nào cũng mang nặng một niềm đơn chiếc mà không có ai chia sẻ. “Một mảnh tình” không giống với một tấm tình, bởi nó thiếu nguyên vẹn, như bị cắt xén ra, và cũng có ý tự khiêm nữa. Lại là “tình riêng”, tình cá nhân của tác giả, tình nhớ triều xưa, hẳn không giống với tình số đông đương thời. “Ta với ta” nghĩa là chỉ ta mới hiểu ta; mà như vậy càng tăng thêm cảm giác về sự cô độc.

Bầu trời, ngọn núi, bờ biển càng gợi ra một không gian bao la, cao rộng bao nhiêu, lại càng tương phản với mảnh tình bé nhỏ, đơn chiếc bấy nhiêu. Hai câu thơ mà rất nhiều ý. Nhưng cái buồn thầm lặng mà vẫn cứng cỏi. Phải chăng đây là nét đặc trưng của nỗi buồn xưa, nỗi buồn trước cảnh non sông biến đổi, triều đại hưng phế, nhưng tình riêng vẫn còn “bất biến” với chính mình?

Qua Đèo Ngang đâu phải giản đơn là vượt qua một con đèo, một địa danh, địa giới. Qua Đèo Ngang còn là vượt qua một triều đại, vượt lên chính mình. Cái tên Đèo Ngang đối với Bà Huyện có thể có chút ý vị ngang trái nào đó.

Đạo đức phong kiến không chấp nhận một thần dân có thể thờ hai vua, hai triều đại nhưng triều đại mới vẫn cần sự cộng tác của các thần dân triều đại cũ. Bà Huyện sinh vào thời Nguyễn, chồng bà cũng làm quan thời Nguyễn. Nhưng vốn người gốc Thăng Long Bắc Hà thì lòng lưu luyến triều xưa còn nặng. Qua Đèo Ngang thời ấy có nghĩa là rời bỏ đất cũ, vào theo chúa mới. Điều làm cho bà không hổ thẹn là bà vẫn không thôi thương tiếc cựu triều.

Bài thơ thật êm ái, tha thiết. Cảnh sắc Đèo Ngang được miêu tả bằng những đường nét tiêu biểu của cảnh thực, lại vừa tiêu biểu cho nỗi lòng. Thơ bà Thanh Quan hay về âm điệu réo rắt, tha thiết, lại có vẻ đẹp trau chuốt sắp đặt, cao quý trang nhã, mang đậm hồn cổ điển.

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan – Bài làm 3

Ai đã từng đi trên con đường xuyên Việt, hẳn đều biết đến đèo Ngang. Đây là một đèo khá dài và cao, nằm vắt ngang sườn núi cheo leo, hiểm trở của khúc cuối dãy Hoành Sơn, trước khi đâm ra biển. Lên đến đỉnh đèo, du khách sẽ được thưởng thức cảnh đẹp thuyệt vời củ thiên nhiên hùng vĩ: núi non điệp trùng, đại dương bao la, trời cao thăm thẳm. Đèo Ngang là ranh giời tự nhiên giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. Thuở xưa, bao người vào kinh đô Huế để thi cử hay làm việc cho triều đình phong kiến đã đi qua đèo này rồi xúc cảm trước vẻ đẹp của nó mà làm thơ ca ngợi. Bà Huyện Thanh Quan trong dịp từ Thăng Long vào Huế nhậm chức Cung trung giáo tập đã sáng tác bài Qua đèo Ngang.

Đằng sau bức tranh phong cảnh là tâm trạng của nữ sĩ: cô đơn, nhớ nhà và hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã qua. Có thể coi đây là bài thơ hay nhất trong những bài thơ sáng tác về thắng cảnh đèo Ngang.

Câu thơ đầu tiên (phá đề) nói đến thời điểm tác giả đặt chân đến đây:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Đó là lúc mặt trời đang lặn. Phía tây chỉ còn chút nắng hắt những tia sáng yếu ớt lên nền trời đang sẫm dần. Thời điểm này rất dễ gợi buồn, nhất là đối với kẻ lữ thứ tha hương.

Tuy vậy, trời vẫn còn đủ sáng để nhà thơ nhận ra thiên nhiên đẹp như tranh:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Cỏ cây, hoa lá chen nhau mọc bên đá núi. Linh hồn của tạo vật như thấp thoáng sau từng chữ. Điệp từ chen trong các vế đối: cây chen đá, lá chen hoa gợi lên sức sống mãnh liệt của một vùng rừng núi hoang sơ. Cảnh đẹp nhưng nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu. Những bông hoa rừng không đủ làm sáng lên khung cảnh núi non lúc ngày tàn, đêm xuống.

Giữa bối cảnh thiên nhiên bao la ấy, thấp thoáng bóng dáng con người và hơi hướng cuộc sống những cũng chỉ ít ỏi, mờ nhạt, xa vời:

Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Nhà thơ đã dùng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh đặc trưng của cảnh vật và con người ở đèo Ngang. Dáng vẻ lom khom của mấy chú tiều hái củi sườn non khiến cho con người càng thêm nhỏ bé trước thiên nhiên cao rộng. Chợ vốn là nơi biểu hiện đời sống của một cộng đồng làng xã nên thường tấp nập đông vui, nhưng ở đây nó chỉ là mấy túp lều xơ xác bên sông…

Cái lạnh lẽo, trống trải bao chùm lên cảnh vật, gieo một nỗi buồn thấm thía trong lòng người:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,     
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Giữa không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối ấy, vẳng lên tiếng chim cuốc khắc khoải, tiếng chim gia gia não ruột. Đó là những âm thanh có thật mà cũng có thể là tiếng vọng từ tâm trạng chất chứa nỗi buồn thời cuộc của nhà thơ. Bà đã mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ (từ đồng âm khác nghĩa) để nói lên lòng mình trước cảnh vật. Tiếng chim kêu không làm cảnh vật vui lên thêm chút nào mà lại làm tăng phần quạnh quẽ, cô liêu. Phải chăng tiếng chim chính là tiếng lòng của kẻ đang mang nặng tâm trạng u buồn, hoài vọng, nhớ nước, thương nhà?!

Hồn cảnh, hồn người như có nét tương đồng, cho dù về hình thức hoàn toàn tương phản. Cái bao la, vô tận của non nước tô đậm cái cô đơn, chơ vơ của con người và ngược lại. Vì vậy nên nỗi buồn càng lắng đọng:

Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Quả là một nỗi buồn khó san sẻ, giãi bày. Nó như kết thành hình, thành khối, thành mảnh tình riêng khiến nhà thơ phải thốt lên chua xót : ta với ta. Chỉ có ta hiểu tâm sự của ta mà thôi ! vì thế nên nỗi cô đơn càng tăng lên gấp bội.

Bài thơ Qua đèo Ngang tuy ra đời cách đây gần hai thế kỉ nhưng nó vẫn giữ nguyên giá trị trước thử thách của thời gian. Bao người yêu thơ thuộc lòng bài thơ này và khâm phục tài năng của tác giả. Thể thơ Đường luật kiểu cách, sang trọng đã trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi ngôn ngũ giản dị, trong sáng và những hình ảnh dân dã quen thuộc. Đọc bài thơ, chúng ta thêm yêu giang sơn gấm vóc và càng thêm trân trọng những tấm lòng ưu ái non sông đất nước.

Loading...

Thống kê tìm kiếm